Náo Nức Hội Trăng Rằm
Hồ Trường An
Chương Một
Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội
với tùy bút ''Dưới Mái Trăng Non''
Nữ sĩ Mộng
Tuyết Thất Tiểu Muội là đứa con út trong gia
đ́nh sáu anh em nên trong thơ văn bà thường nói
tới nhân vật Nàng Út thay v́ xưng tôi ở ngôi thứ
nhất trong danh xưng. Trước năm 1945, bà cộng
tác với các báo ngoài Hà Nội như Tiểu Thuyết Thứ
Năm, Trung Bắc Chủ Nhật, Hà Nội Báo, Tri Tân, Con
Ong...và các báo Sống, Gió Mùa, Ánh Sáng trong Nam (Sài G̣n).
Vốn là học sinh
ưu tú của Trí Đức Học Xá do nhà thơ Đông
Hồ chủ trương, bà viết những bài văn nho
nhỏ, góp lại thành quyển hợp tuyển văn
chương ''Bông Hoa Đua Nở'' kư bút hiệu là Thái
Nữ Mộng Tuyết để đăng ở Nam Phong
tạp chí (1930). Sau khi bà Linh Phượng qua đời, ông
Đông Hồ trước đó đă tái hôn lần thứ
nhất với người chị ruột của bà
Mộng Tuyết là bà Thái Nhàn Liên (tên thật là Thái thị
Thân). Sau khi sanh cô con gái tên Lâm Yiễm Yiễm (đọc là
cô Diễm Diễm), bà Nhàn Liên qua đời. Ông Đông
Hồ tái hôn lần thứ hai với nữ sĩ Mộng
Tuyết, cô học tṛ và cũng là cô em vợ của ḿnh. Bà
Mộng Tuyết c̣n làm môi giới để cho
người cháu kêu ḿnh bằng cô (về sau trở thành giám
đốc nhà in Mặc Lâm) kết hôn với cô
trưởng nữ Lâm Mỹ Tuyên của ông Đông
Hồ. Bà Tuyên vốn là con bà Linh Phượng.
Bà Mộng Tuyết vào
thời tiền chiến đă đoạt giải văn
chương do nhóm Tự Lực Văn Đoàn tổ
chức vào năm 1937. Quyển này không bao giờ được
xuất bản. Ngoài ra, bà cùng ba nữ sĩ gốc Bắc
là Hằng Phương, Vân Đài và Anh Thơ cùng đóng góp
tập thơ ''Hương Xuân''. Bà cũng được
Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào quyển phê b́nh ''Thi Nhân
Việt Nam''. Ngoài ra, bà c̣n viết cho báo Nhân Loại trong
thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và
Việt Minh do Đông Hồ chủ trương.
Cũng trong thời
chiến tranh Đông Dương, bà Mộng Tuyết
cộng tác cho báo Ánh Sáng và tham gia vào tuyển tập thi
ca ''Thơ Mùa Giải Phóng''gồm nhiều tác giả
nổi tiếng ở miền Nam vào thời Nam Bộ Kháng
Chiến như Chim Xanh, Trúc Khanh, Phạm Từ Quyên, Từ
Trẩm Lệ... Sau Hiệp định Genève, bà cộng tác
với một vài tạp san nổi tiếng ở miền
Nam như Nhân Loại (do nhóm Ngọc Linh chủ
trương), Tiểu Thuyết Thứ Bảy (ở Sài g̣n
vào năm 1961),Văn Đàn, Văn, Bách Khoa... Năm 1960, bà
cho xuất bản quyển tiểu thuyết dă sử ''Nàng
Ái Cơ Trong Chậu Úp'' thi vị hóa cuộc diễm t́nh
lệ sử giữa Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tích
và nàng ái cơ Nguyễn Phù Cừ của ngài tại doanh
trấn đất Phương Thành (Hà Tiên). Năm 1969, bà
cho xuất bản quyển tùy bút ''Dưới Mái Trăng
Non''. Năm 1973, bà cho in tập thơ ''Gầy Hoa Cúc''...
Đó là những quyển sách xương sống của
bà.
Ở quyển bút
khảo này, bút giả chỉ nói tới quyển ''Dưới
Mái Trăng Non'', do Văn Nghệ (Sài G̣n) tái bản vào
năm 1996.
Vào năm 1969, Lê
Tất Điều cũng đă giới thiệu và
nhận xét qua loa quyển tùy bút này trên nhật báo Tiền
Tuyến. Quyển này ở lượt xuất bản
lần đầu tiên chỉ đăng những bài văn
xuôi. Thơ có chăng chỉ được lồng vào
những bài văn xuôi coi như minh họa những
điều mà tác giả muốn tŕnh bày với độc
giả. Hoặc đó là những câu thơ, những bài
thơ coi như những viên kim cương hoặc
những phiến bảo ngọc nạm trên những
món bội hoàn chạm trổ tinh xảo, có tính cách trang trí
cho đẹp bài viết. Nhưng khi do Văn Nghệ (Sài
G̣n) tái bản vào năm 1996 th́ tác giả thêm thơ và thêm
nhiều bài tùy bút khác. Có thể là thơ trích trong thi
tập ''Phấn Hương Rừng'' hoặc trong thi
tập ''Hương Xuân'' hay thi tập ''Thơ Mùa Giải
Phóng''. Cũng có thể là thơ lẫn văn xuôi trích
từ các tạp chí văn chương vào thời tiền
chiến hoặc dưới hai chính thể Đệ
nhất Cộng Ḥa và Đệ nhị Cộng Ḥa ở
Miền Nam Việt Nam.
Trên hành tŕnh thực
hiện ''Dưới Mái Trăng Non'', bà Mộng Tuyết
Thất Tiểu Muội phải trải qua trên 3/4 thế
kỷ. Vận sự này khiến chúng ta liên tưởng
đến quyển nhật kư ''Mes Cahiers Bleus'' của nàng
đại danh kỹ Liane de Pougy vào Thời Đại
Mỹ Lệ (La Belle Époque) từ khi nàng đặt bút hoa
lên trang thứ nhất màu lam ngọc của quyển
nhật kư cho tới trang chót mà quyển sách hăy c̣n dở
dang. Quyển nhật kư ấy cũng phải trải
qua hơn nửa thế kỷ. ''Mes Cahiers Bleus'' giống
như ''Dưới Mái Trăng Non'' ở chỗ viết
về các văn nhân thi sĩ đương thời
với tác giả. Nhưng Mộng Tuyết Thất
Tiểu Muội chơi trội hơn Liane de Pougy ở
chỗ biết làm thơ, ở chỗ miêu tả những
thắng cảnh với những nét tạo h́nh kiều
diễm có thể khắc sâu vào ấn tượng và
niềm hoài cảm của độc giả.
Tên thật của bà
Mộng Tuyết bị hai ông Hoài Chân và Hoài Thanh ghi sai trong
quyển ''Thi Nhân Việt Nam''. Tên bà không phải là Lâm
Thái Úc mà là Thái thị Sửu. Dù lai người Trung Hoa
ba bốn đời, nhưng song thân bà vẫn nhiễm thói
ăn nết ở của dân quê Nam Kỳ nên không
đời nào đặt cho con gái họ một cái tên
có ư nghĩa thâm thúy và kêu vang lảnh lót khi đọc lên
được. Thuở xưa, dân Nam Kỳ không bao giờ
đặt tên đẹp cho con gái ḿnh, cốt tránh
điều xuôi xẻo có thể xảy ra khi các cô ngọc
nữ kia hăy c̣n thơ ấu.
Hồi tiền
chiến, tác giả lấy bút hiệu là Mộng Tuyết.
Kèm theo đó, bà c̣n lấy thêm bốn bút hiệu Nàng Út, Hà
Tiên Cô, Bách Thảo Sương và Bân Bân Nữ Sĩ. Dưới
chính thể Cộng Ḥa Miền NamViệt Nam, bà thêm 3
chữ Thất Tiểu Muội vào bút hiệu Mộng
Tuyết thường dùng của ḿnh. Nhưng dưới
chế độ Cộng Sản, bà bị rúng ép
phải trở về bút hiệu Mộng Tuyết suông
trơn thuở trước.
Thơ văn bà
Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội điệu
đà, thêu hoa dệt gấm rất diêm dúa và sặc sỡ.
Bà lại lấy cảm hứng ở văn chương
Trung Hoa, dùng bối cảnh cổ kính của nước
Tàu thời Trung Cổ, thời Cận Đại
được vẽ trên tranh lụa, trên nền men
ngọc của các món cổ ngoạn. Chúng ta không nên trách bà
ngoại lai ở nếp sống và ở văn
chương. Bà sinh trưởng tại thị trấn Hà
Tiên có hồ thơ núi mộng, có những ṭa kiến trúc theo
kiểu lâu các đ́nh viện của Tàu. Người xây
dựng thị trấn này là Cửu Lộc Hầu Mạc
Cửu vốn người Minh Hương bỏ chế
độ quân chủ Măn Thanh để qua Việt Nam
lập nghiệp. Từ một góc nhỏ hoang dă và man
rợ đầy sơn lam chướng khí của
miền Cực Nam đất nước, Cửu Lộc
Hầu đă biến thành thị trấn Phương Thành
(về sau mới đổi tên là Hà Tiên) với cách
kiến trúc rất Tàu. Nhưng gia đ́nh của bà cũng
theo cách sống của thôn dân Việt Nam nơi Xóm Rẫy
(vùng ngoại ô của Hà Tiên) nên văn chương bà có
thể phản ảnh được rất nhiều
nếp sống và phong thái của người Việt Nam.
Ông Đông Hồ
cũng lai Tàu bốn năm đời ǵ đó. Ông yêu
tiếng Việt, dân Việt. Nhưng trong tâm hồn ông
vẫn bảng lảng chút khói hương thời
Đường Tống của đất nước Trung
Hoa. Cho nên ông tránh sao khỏi cái tính lập dị cá biệt.
Tiệm sách của ông được đặt tên là
Yiễm Yiễm Thư Trang, tiệm may của ông tên là
Yiễm Yiễm Thương Điếm, nhà hóng mát của
ông có treo vài gị phong lan được đặt tên là
Vương Giả Hương Đ́nh. Khu vườn
của bên nhạc gia ông được đặt tên là
Bách Phương Viên, rồi Úc Viên, mái hiên trên gác xép của
bà Mộng Tuyết được gọi là Tân Nguyệt
Hiên (Mái Trăng Non). Sau này, khi thiên cư lên Sài G̣n, ông mang
theo những cái tên Úc Viên, Mái Trăng Non, Vương Giả
Hương Đ́nh tọa lạc đường
Nguyễn Thái Học. Nhà ông có cái tên Đại Ẩn Am. Sau
đó ít lâu, Yiễm Yiễm Thư Trang từ
đường Nguyễn Thái Học dời qua Tân
Định, gần rạp hát Moderne. C̣n Đại Ẩn
Am, Vương Giả Hương Đ́nh, Úc Viên, Mái
Trăng Non được dời qua Phú Nhuận, gần
Hồ Tắm Chi Lăng; chính tại đây Đại
Ẩn Am biến thành Qúnh Lâm Thư Thất. Khi ông qua
đời được ít lâu, bà Mộng Tuyết thiên
cư về Tân Sơn Ḥa, đường Nguyễn Minh
Chiếu mang theo Qúnh Lâm Thư Thất và Úc Viên
đặt trên dẻo đất có cây cao bóng mát.
Các bạn dù có
trách lối sống kiểu cách đôi uyên ương
nghệ sĩ kia đi nữa, nhưng các bạn phải
công nhận họ có nếp sống đẹp. Nhà họ
không có bàn ghế bằng danh mộc, không có hoành phi,
liễn son, liễn mun, không có các món ngoạn hảo quư giá.
Nhưng nó có những tủ kính vĩ đại
đựng sách như một cái thư viện. Lại c̣n
có những liễn bằng giấy bồi ghi những bài
thơ của ông Đông Hồ qua nét thủ bút sắc
như lá lan của chính ông.
* * *
Trong bài Bạt ''Vườn
Dưa của Nàng Út'' của quyển ''Dưới Mái
Trăng Non'', bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội
đă vạch rơ đường lối văn chuơng theo
phái Duy Mỹ của ḿnh như sau:
Vườn hoa nàng Út
ngày nay không biết có tốt tươi xinh đẹp
như vườn dưa nàng Út ngày xưa hay không và có
rủ rê quyến luyến khách qua đường hay không,
cái đó th́ không làm sao biết được. Duy, có
một điều biết đuợc là nàng Út bây giờ
hẳn không khờ dại mà để cho ông Hoàng nào
trẩy hết cả vườn hoa quư của nàng.
''Dễ thường
ḿnh ích kỷ và hà tiện quá hay sao?''. Nàng tự hỏi ḿnh
như thế, trong lúc tay đang cầm chùm hoa ''Thất
tỉ muội'' mới ngắt ở Bách Phương Viên,
rứt từng cánh nhỏ thổi tung đi.
Gió quyện hơi
thơm, nước trôi cánh đẹp, bay tới đâu,
xuôi tới đâu và dừng lại nơi đâu, nàng
cũng không làm sao biết được.Nàng chỉ
biết xin ai đừng đ̣i, ở bông hoa đó,
những màu sắc diễm nùng với những làn
hương nồng ngát say sưa.
Đó chỉ là
những đạm đạm thanh thanh, những ư trinh d́u
dịu, những ánh chiều mong manh và những tơ
trăng mờ ảo, là những mở chầm chậm e
dè của cành hổ ngươi. Hăy gượng nhẹ và
dịu dàng, xin đừng mạnh tay mà cành hổ
ngươi khép lại. (các trang 478, 479)
Trong bài ''Đáp
Lời Phỏng Vấn Văn Nghệ của Báo Bách Khoa'',
thêm một lần nữa bà xác định khuynh
hướng văn chương của ḿnh và vị trí
của người đọc:
Ḿnh chỉ viết cho
ḿnh, v́ ḿnh không phải nhà văn chuyên nghiệp cho nên đă
để trôi qua biết bao nhiêu t́nh ư mà v́ không cố công
đuổi bắt nó, một khi nó lảng vảng
đến ḿnh.
Chỉ ghi lại
những ǵ chín muồi như trái cây nhân sâm chín rụng,
không biết dùng móc bạc mà hái nó, rồi cũng không
biết dùng chậu vàng mà hứng nó th́ e nó chui tuột
hết xuống đất. Cảm hứng cũng mong manh,
nhát tiếng động và ưa lẩn trốn như trái
nhân sâm. (trang 472)
...thơ nào
cũng không nói được hết lời. Bèn nghĩ
lối viết tùy bút. Và, thay v́ làm thơ th́ làm văn,
với đúng nghĩa ''làm văn'', với quan niệm
''làm văn'' cũng phải khó khăn, cũng phải rèn
luyện, cũng phải công phu như ''làm thơ''. Bài
văn là bài thơ tự do không xuống ḍng.
Và bài văn đó
nhất định phải đẹp, phải đẹp
như một bài thơ. Bài văn đó cũng
phải điêu luyện, cũng phải trau chuốt,
cũng phải là lời vàng tiếng ngọc để
mà diễn tả ư ngọc t́nh châu.
Và c̣n đọc văn
nữa. Đọc một bài văn lại cũng phải
công phu như đọc một bài thơ.
Người viết
đă dọn ḿnh mà viết, người đọc sao
lại không dọn ḿnh mà đọc, dẫu rằng
người đọc không cùng một quan điểm với
người viết nữa.
Chiếc ṿng ngọc
thạch, hoặc rộng hoặc hẹp, không vừa
với cổ tay ḿnh, nhưng mà nó vừa vặn với
cổ tay người khác, th́ ḿnh dẫu không đeo nó,
cũng phải biết thưởng thức đúng
với cái đẹp của nó ở cổ tay của giai
nhân không phải là ḿnh. (trang 473)
Tôi được
đọc cuốn ''Đời Viết Văn Của Tôi''
của Học Giả Nguyễn Hiến Lê, tôi đă
tiếp xúc với Tiến Sĩ Thái Văn Kiểm,
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Họ đều khen
ngợi văn phong và cách diễn tả của bà Mộng
Tuyết Thất Tiểu Muội. Óc quan sát của bà
thật tinh nhuệ, thật bén nhạy và thật mănh
liệt. Những sự vật tầm thường
dưới ng̣i bút của bà trở nên linh động
dị thường. Xin cùng đọc đoạn bà
viết sách quốc cấm duới thời Pháp thuộc
bị đốt cháy:
Ánh lửa bập bùng
trong ḷ cuộn khói. Ngổn ngang đống giấy, trang
chữ in, đang bị ngọn lửa xanh, cháy xém. Lửa
liếm tới đâu, tờ giấy như thun ḿnh
lại, uốn éo. Phồng lên, co dúm, quằn quại
như có tri giác, né tránh sức bạo tàn thiêu
đốt.Nhưng mà ngọn lửa bạo tàn có ngừng
lại cho đâu. Một cái cử động nhỏ
của que cời, đă giúp cho sức hung hăng, vừa
khói vừa lửa, kiêu hănh vươn cao gần tới nóc
nhà bếp.
Út không dám có một
lời nào, một cử chỉ nào: cô đứng im như
tượng đá mà nh́n trân trân đống lửa.
Út thấy ḷng bồi
hồi đau xót. Ruột gan như cũng uốn ḿnh
chống trả lại với một quặn thắt vô
h́nh, thần kinh như cũng co giăn theo mỗi chuyển
ḿnh của mỗi tờ giấy.
Trang giấy trắng
tinh nổi rơ hàng chữ mực in, lần lần ngă sang màu
vàng, dưới lưỡi lửa xanh lè ám khói, rồi
mới cháy bùng lên.
Lửa ngọn hạ
thấp dần, khói đen nhạt dần, những tờ
giấy trở thành than đen nhánh. Kiếp giấy, than ôi
đă mỏng, mỏng như phận mỏng cánh chuồn,
nhưng mà tờ than của kiếp sách nó c̣n mỏng manh
hơn mấy kiếp cánh chuồn chuồn.
Cô Út muốn đưa
tay gom lại những tờ than giấy c̣n lờ mờ
nổi những chữ mực in kia. Nhưng mà trong ḷng
khối than giấy, lửa hăy c̣n âm ỉ. Lửa chưa
hóa được những tờ kia thành tro bụi,
lửa đâu chịu tàn cho.
Lửa hăy c̣n
đốt phá ngấm ngầm cái mỏng manh hết
sức mỏng manh của tờ than giấy.
(''Đốt Sách'', các
trang 213, 214)
Qua đoạn trích
dẫn trên đây chúng ta đă thấy cái tâm hồn
nghệ sĩ của tác giả sâu sắc, thắm
đượm là dường nào. Một nhà văn tài
nghệ tầm thường làm sao có thể nh́n thấy cái
đẹp tiềm ẩn và thấm nhuần trong cái
chết chóc tàn hủy, trong những sự vật chưa
phải là vưu vật và cũng không phải là kỳ quan
hay thắng cảnh. Vậy mà tác giả dùng cách diễn
tả rất thơ, tưới tẩm ngôn từ diễn
tả bằng những rung cảm kỳ diệu
để biến chúng thành chất liệu quư báu cho văn
chương. Cho nên cảnh đốt sách quốc cấm
dưới thời Pháp thuộc ấy một khi đi vào văn
chương của bà nữ sĩ đất Hà Tiên đó
cũng trở thành ra một bài bi ca (poème saturnien) diễm
lệ.
Văn phong như
thế này dù có ưỡn ẹo thật đấy,
nhưng chẳng những nó không dơ dáng dại h́nh mà c̣n
có nét đẹp riêng, song song với cái đẹp cổ
kính của lụa vẽ nhung thêu xen lẫn cái đẹp
của trời nước, của trăng sao, của hoa
đồng cỏ nội trong các bài tùy bút khác. Nguyễn
Tuân trong ''Vang Bóng Một Thời'' tuy điệu đà mà
vẫn giữ khí phách ngang tàng của tay giang hồ mă
thượng. Xuân Diệu tuy có ưỡn ẹo trong thiên
tùy bút ''Phấn Thông Vàng'' nhưng biểu dương
những niềm rung cảm bén nhạy đối với
cuộc sống hẩm hiu, đối với những con
người bất hạnh, đối với cảnh
vật thê lương. Cho nên không ai lấy làm lạ
rằng hai ông Nguyễn Tuân và Xuân Diệu trở thành tri âm
tri kỷ của bà từ thuở nước nhà chưa
ngún ng̣i lửa chiến tranh (bắt đầu từ
Đệ nhị Thế Chiến). Nhưng nói chung, cái
điệu đà trong văn chương của Nguyễn
Tuân chỉ là màu đạm hồng phơn phớt, c̣n cái
điệu đà trong văn xuôi của Xuân Diệu là màu
hồng đào tươi sáng, c̣n cách diễn tả uốn
lượn uyển chuyển trong các bài tùy bút của bà
Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội là màu hồng
ngọc thắm thiết và sáng long lanh. Tự bấy
lâu nay, có vài ''phê b́nh gia'' chê văn phong điệu
đà của bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội
một cách phiến diện bất công. Họ không sao
giấu được chân tướng của loại
người có tâm hồn hạn hán và có tâm địa
hạn hẹp không thể mở rộng để đón
nhận những sắc thái đặc biệt của
văn chương nghệ thuật. Họ ưa dùng
đao tao búa lớn để chém ngă những công tŕnh tinh
tế của một nhà văn v́ quá mê say cái
Đẹp nên không tự chủ lúc cầm bút, nên tạo ra
cách diễn tả hoa gấm kiêu sa cho văn phong của
ḿnh. Chém ngă như thế, các tay phê b́nh bạo dâm kia
chứng tỏ ta đây trượng phu, ta đây uy mănh và
hào hùng, ta đây khinh thường loại văn
chương nghệ thuật chỉ dành riêng cho phụ
nữ thích làm dáng, thích nũng nịu với cuộc
đời. Nhưng họ bị cái ép-phê ngược:
họ càng để lộ cái căn tính hẹp ḥi cùng
khiếu thưởng ngoại chai sượng và khô
cứng, không thể thẩm thấu chất mật
ngọt và hưong thơm cùng những phong vị tuyệt
vời khác trong cuộc sống.
Viết tùy bút, nhà
văn có thể dùng mọi thứ ngôn ngữ. Mai Thảo
dùng ngôn ngữ trừu tượng và huyền bí pha lẫn
những ngôn từ triết học, ngôn ngữ dành riêng cho
thơ. Nguyễn Tuân và Xuân Diệu dùng ngôn ngữ dành cho
cách viết truyện ngắn nhưng cả hai vẫn dùng
vài ngữ pháp kiều diễm, vài ngôn từ thơ mộng
để trang sức cho bài viết thêm sinh sắc. Có
buồn cười chăng là ông Thi Vũ Vơ văn Ái
viết đoản văn, tùy bút, b́nh luận thời
cuộc bằng ngôn từ do chính đuơng sự
biến chế ra hoặc những ngôn từ có trong
tự diển chấp vá với chữ mà đuơng
sự moi móc ở đầu Tề đít Lỗ nào đó.
Bài viết v́ thế tuy có khua động rổn rảng
nhưng v́ ư tứ nghèo nàn kém cỏi nên trở thành kệch
cỡm. Những ngôn từ như thế chỉ là
những lớp son phấn ḷe loẹt không sao che giấu
gương mặt rổ chằng chịt. Trong khi đó,
ba Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội dùng ngôn từ
thi ca để viết tùy bút. Cho nên mỗi bài tùy bút
của bà là một bài thơ bằng văn xuôi đúng
hơn.
* * *
Ở các bài tùy bút, bà
Mộng Tuyết vận dụng óc quan sát tối đa. Cộng
thêm tính mẫn cảm, bà vạch nên những nét tạo h́nh
sắc sảo trên vận sự được miêu
tả. Trước hết xin đọc những nét
mô tả khái quát như những nét phác thảo, nhưng
vẫn là những nét sắc sảo cứa mạnh vào
ấn tượng người đọc. Đây là thú
đăi khách uống trà:
Chén trà đă quyện
hương rồi. Đó là những cánh trà đen, to và thô,
pha từ nước thứ hai có mùi hoa mộc, từ
nước thứ ba có mùi hoa thúy lan. Đó là loại
trà Thiết Quan Âm, Thiết La Hán của Phúc Kiến mà tác
giả ''Những Cái Ấm Đất'' công khó từ
Hà Nội gửi vào.
Các thứ trà đó,
uống nó, người ta phải có những chén tống,
chén quân, những cái ấm chuyên, ấm đồng;
nhưng nay v́ đông người quá, người ta
phải làm lối ngưu ẩm, pha cả b́nh.
Biết vậy, cô
chủ nhân cái Yiễm Yiễm Trà Thất đă cẩn
thận chọn bỏ ra, từ chiều những cánh trà
già màu hơi vàng và đă tự tay nấu nước cho
vừa độ, và tự tay pha lấy giữ cho
hương trà không hao kém đi.
(''Khói Trà Hương
Đượm Chén Trùng Phùng'', trang 194)
Trong ''Hồng Lâu
Mộng'' của Tào Tuyết Cần, đạo cô Diệu
Ngọc pha trà bằng tuyết đọng trên cánh hoa mai
trong vườn chùa Huyễn Mộ Phiền Hương.
Trong ''Những Cái
Ấm Đất'' của quyển tùy bút ''Vang Bóng Một
Thời'', Nguyễn Tuân nói về cách pha trà bằng
nước giếng chùa Đồi Mai và bằng
sương đêm đọng trong ḷng sâu của lá sen
(trong bài ''Chén Trà Trong Sương Sớm'').
Bà Mộng Tuyết th́
không pha trà cầu kỳ như thế. Nhưng bà đă t́m
được hương vị trà pha ở nước
thứ nh́ và ở nước thứ ba. Khưu giác bà
phải tinh nhuệ lắm.
Và để tiếp
theo, xin đọc một đoạn về việc se
đôi bạch lạp trong bài ''Đêm Bất Dạ''
như sau:
Sáp lấy ở Ngan
ong, làng Dương Ḥa, là tốt có tiếng. Ngan ở
đây là một cánh rừng to, mọc toàn cây dá và cây vông,
đặc biệt là tư niên, có ong đến đó làm tổ
khắp giải rừng.
Sở phong ngạn là
triều đ́nh chúa Nguyễn cấp làm đất
hương hỏa đời đời cho ḍng họ
Mạc đă có công khai trấn đất Hà Tiên.
Năm năm có
người thầu, đóng hoa lợi cho làng để
cung việc tế tự.
Sáp lấy ở
rừng này quư là v́ ong chỉ ăn thuần một
giống hoa, không ăn tạp giống hoa khác, cho nên
chất sáp có một màu trong và một vị thơm
đặc biệt.
Hai bát sáp úp vào nan, no
tṛn, trong ngon mắt như cặp bánh dầy trắng
mịn. (trang 133)
Sau hôm mồng bảy,
hạ cây nêu trước nhà rồi, là cụ Hương lo
việc đan tim (tức là bấc đèn) và phơi sáp. Trước
nhất là thái sáp thành lát mỏng, chắp lại thành
từng cái dĩa bàn, đem phơi giữa lúc nắng to.
Rồi cả nhà, anh Ba, anh Tư cùng góp tay vào việc cho
lửa nhồi sáp, nắn cho sáp được nhuyễn
mềm.
Việc quan trọng là
đặt tim vào ḷng sáp. Cả khối sáp mềm vừa lăn
đè lên trên tấm ván, đặc biệt để dùng xe
đèn, vừa nắn cho nhanh và đều tay khối sáp
dôi ra bao bọc đều vừa hết sợi tim đèn.
Nắn sửa lại cho tṛn thành cây đèn ngay thẳng,
xong th́ lớp vỏ sáp cũng từ từ se nguội.
Tưới một ít nước lă vào, lăn thêm ít ngoai, là
sáp cứng lạnh. (trang 134)
Chúng ta đă bắt
gặp những ǵ trên 2 đoạn trích dẫn này? Một
chút khói sương và một chút óc quan sát trong tùy bút ''Vang
Bóng Một Thời'' của Nguyễn Tuân có phải?
Một niềm tha thiết bền sắt tươi son
với vang bóng thời xa xưa trong văn chương
của Vũ Bằng ở quyển ''Mê Chữ'' có
phải?
Bước qua lănh
vực ấn loát, sách ốc, tức là qua lănh vực
kỹ nghệ khô khan, tác giả vẫn t́m được
khía cạnh thơ mộng, một bản sắc kỳ đặc
để mô tả. Chẳng hạn về giấy in, bà
vạch những nét tạo h́nh tuyệt vời như sau:
Ôi thú vị
thay!Người trần biết kư thác tâm t́nh tư
tưởng họ trên những trang giấy thơm
đẹp.
Mềm mại
trắng tinh của tờ ngọc khấu, tờ cống
xuyên nước Tàu thuần phác; xốp nhẹ dễ yêu
của tờ Bouffant, óng mỡ dịu mắt của tờ
Velin, nhẵn láng mát tay của tờ couché phương Tây
máy móc. Thanh nhă thay chất nhung tơ của phẩm
giấy Phù Tang và cao quư thay Dó lụa Việt Nam !... (''Con Gái
Út Nhà Trời Thác Sinh Làm Nàng Mọt Sách'', trang 181)
Cũng viết về
giấy, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội không quên
nhắc tới Nguyễn Tuân, nhà văn viết tùy bút vĩ
đại nhất thuở tiền chiến đối
với tâm tưởng của bà:
... Bao nhiêu
thư từ sách vở anh gửi cho từ năm 1939
đó, tuy không c̣n giữ đủ được, nhưng
nội dung và kỷ niệm không thể phai mờ.
Lúc anh cho in quyển
''Vang Bóng Một Thời'' lần thứ nhất, anh
gởi vào cho hai bản đặc biệt. Một bản
lụa Dó dầy đựng trong hộp bằng
đủi tơ vàng óng. Anh đề: ''Gởi Tuyết
muội muội'' và bản kia cũng loại đặc
biệt bằng giấy Bouffant impérial à la cuvée (có đóng
triện son ''Gió đă lên'' với cánh buồm no gió và
mảnh trăng liềm), anh đề tặng:
''Kính gởi Đông
Hồ Lâm nhân huynh
''Hồ Tây, quí xuân Canh Th́n (1940)''.
Trong quyển giấy
đó, anh kèm theo lời là phải rọc cách nào cho có ''nhung
tơ óng mỡ''. Thế là tôi phải thỉnh giáo lại.
Anh dạy lấy khăn ướt lau cho ẩm ba bờ
sách rồi mới dùng dao cùn mà
rọc. (''Mưa Dầm Tháng
Bảy'', trang 415)
Những sự vật
mà tác giả đă được mắt thấy tai nghe
dĩ nhiên được óc quan sát của bà soi rọi,
được óc thẩm mỹ và óc tế nhị của
bà nếu không tô hồng chuốc lục khi gặp cảnh
sắc xứng ư th́ cũng làm cho chúng linh động
hẳn lên, biến thành chi tiết hay toàn cảnh của
một bức tranh sống.
Th́ đây! Chúng ta cùng
ngắm cảnh Đông Hồ dưới ánh trăng
đêm rằm Nguyên Tiêu trong ''Đêm Bất Dạ'':
Rằm tháng giêng...
Tết đă qua mười lăm ngày rồi. Phong vị
Tết đă nhạt dần từ hôm mồng ba mồng
bốn...Chiều hôm nay, ḷng bỗng nôn nao. Dư vị của
ba ngày xuân c̣n lắng đọng, tự nhiên như phơi
phới dâng lên.
Trẻ con lại
được giở ra quần áo mới. Người
giai nhân dự bị, từ sáng sớm, để
hưởng một đêm Tết Có Trăng.
Mặt trời
khuất sau tấm màn gió biếc của rặng B́nh San th́
bên kia Đông Hồ, vành trăng cũng từ từ nhô lên
khỏi nước. Một cái ấn vàng đóng tṛn trên
mặt gương ngọc.(các trang 131, 132)
Toàn cảnh bao la
được thu nhỏ vào một khu vườn của
tác giả ở Xóm Rẫy cũng vào một đêm trăng
tṛn, nhưng không phải vào những kỳ rằm; nơi
ấy có một bông hoa quỳnh hé nở:
Một đêm kia, h́nh
như không phải là đêm rằm mà sao bóng trăng tṛn
trĩnh quá! Nửa mái nhà và một góc vườn ngập
ánh trăng.Đâu đây, thoang thoảng mùi thơm. Một
mùi thơm là lạ, vương vướng có hơi
bạch đàn hương, thanh hải hương và
một chút ngọc quế hương.
Trăng diễm
ảo, mùi thơm càng diễm ảo hơn. Trăng đă
cao và sáng hơn. Mùi thơm theo độ trăng càng náo
nức hơn.
Nàng Út say sưa gần
như cuồng loạn. Nàng chạy khắp vườn.
Hương
vương trong lá, hương rớt trên đường,
hương tràn ngoài ngơ, hương vương trong tơ
trăng. Ôi! Hương! Hương! Hương tràn
ngập!
Gió thổi vờn làn
tóc, Nàng Út nghĩ thầm: ''Hay là gió quyện hơi thơm
từ một lăng uyển nào về?''. Mùi thơm huyền
diệu quá. Hoa hoa, lá lá, cả vườn thao thức say
hương.
Chớp mắt một
cái, Nàng Út thấy ḿnh đứng trước chậu hoa
Quỳnh. Theo thói quen, nàng ngồi lại bên hoa, vuốt ve
mấy cái lá xanh già.Nàng ngạc nhiên nh́n chồi hoa đă cao
lớn lên lúc nào. Và bài thơ chữ thảo li ti bên bức
tranh lờ mờ khắc trên men ngọc chậu sứ,
nàng cũng nhận rơ ràng. Nàng đọc mấy chữ
thơ mà mọi khi phải soi kiếng cũng không t́m
đủ nét.
''Nhứt chi nùng
diễm lộ ngưng hương''
Cái dáng dấp
Dương Quí Phi tựa nghiêng bên gác trầm hương
dường như phấp phới.
Nhưng mùi hương
sực nức đă gọi Nàng Út ngẩng lên, không cần
phải ngửi một hơi dài, nàng cũng cảm
thấy mùi hương ngạt ngào, ngập tràn trong buồng
phổi. Nàng đưa tay vạch một kẽ lá và kêu lên:
-- Ô! Một bông hoa
Quỳnh hé cánh.
Cuống hoa xanh màu
hoa lư từ trong nách một kẽ lá trổ ra. Những cánh
đài hoa c̣n vương vướng có gân xanh đă nở
bung dần. Ở trong c̣n bao lớp tuyết nhung ngậm
kín.
Sung sướng và say
mê, Nàng Út yên lặng ngồi ŕnh. Nàng không dám thở mạnh,
sợ làm tan một cái ǵ mỏng manh, mỏng manh lắm.
Ôi, c̣n ǵ mong manh hơn sự mở cánh của quần
phương!
Trăng cao cao dần,
hoa hé hé dần. Ai đă đem tơ trăng huyền
ảo mà buộc vào những cánh thần hoa? Những cánh
trắng hơn tuyết, nơn hơn nhung, trong hơn vân
ngọc, mịn hơn vân ngà. Làn u hương kỳ
diệu đồng thời toát theo từng cánh mở
của bông hoa.
(''Úc Viên Kư'', các trang
279, 280, 281)
Có thể có vài bạn
độc giả thắc mắc: trăng sáng tới
mức độ nào mà tác giả thấy nét chữ
thảo trên nền men ngọc của chậu hoa, thấy
màu sắc của cuống hoa, đài hoa và cánh hoa? Nhưng
mà ai ai cũng phải tin rằng dù dưới ánh trăng
chưa tới kỳ rằm, cái phàm nhăn của tác giả
tuy không thấy rơ ràng và tách bạch nét chữ của bài
thơ trên nền men của chậu hoa cùng h́nh ảnh và màu
sắc của bông hoa đang nở, nhưng con mắt
của tâm hồn bà cộng với ấn tượng
của bà do một cảm giác mănh liệt và đột xuất
khơi dậy, khiến bà thấy những đối
tượng ngoạn mục và thơ mộng kia. Do đó,
trong văn chương, chúng ta có thể ư thức thêm
một điều then chốt: nh́n cảnh đẹp
đâu phải chỉ nh́n bằng mắt mà c̣n phải nh́n
bằng tâm hồn.
Càng thu nhỏ
hơn nữa, đó là những vật tầm
thường như cái bánh qui bằng bột nhuộm
đỏ dành để đăi Nguyễn Bính
được bà ghi giống như ''chiếc ấn son''.
Những chiếc đèn lồng bằng dưa hấu (qua
đăng) cũng đươc bà mô tả vừa kỳ
đặc vừa sống động:
Trước nhất,
cụ Hương bảo cắt mặt dưa, dù
đỏ hay không đỏ cũng cứ để nguyên
quả dưa mà móc bỏ hết sạch ruột đi. Quả
dưa đă biến thành một cái đáy bụng của
chiếc hồ lô. Rồi cụ dùng mũi dao sắc
nhọn tỉa gọt, chạm sâu vào những nét lan, nét
trúc, cánh bướm, bài thơ, trên mặt vỏ dưa.
Bỏ vào bồn nước, ngâm giữ cho vỏ dưa
đừng héo.
Trăng giải
khắp. Trong vườn Muôn Hương, dưới cành,
trong lá loáng thoáng những quả lồng đèn dưa,
nổi bật trên nền vỏ xanh, lọc ánh sáng thành
một màu xanh ngọc bích.
Chiếc đèn to,
trổ theo kiểu nhất thi nhất họa của
cụ Hương, treo giữa hiên. Những chiếc khác
của các anh cũng chạm khắc theo lối đó, những
ai không kẻ được đủ cả một bài
thơ, bằng lối hành khải thư, như chiếc
đèn chánh. Chỉ tỉa một đôi câu:
''Nguyên tiêu thiên bất
dạ
''Đối cảnh phú Tràng An''.
Hoặc chỉ có ba
chữ ''bất dạ thiên'' hay bốn chữ ''nhất
khắc thiên kim'' theo lối lệ triện.
Riêng có chiếc đèn
của Nàng Út th́ cụ Hương cũng vạch phá cho
mấy nét hai chữ ''Úc Viên'', rồi để cho Út
tự gọt lấy. Ngoài nét chữ ra, Út c̣n móc thêm
những điểm sao rơi và những liềm trăng
non. Chiếc Úc Viên Đăng được treo trên cành mai
gie trước cổng, có dán đôi câu đối viết
trên giấy hồng đơn.
''Thế thượng
mai hoa vô song phẩm
''Nguyệt trung đan quế
đệ nhứt chi''.
* * *
Rất nhiều
lần, bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội
dựng những cảnh rất sống động,
rất linh hoạt trong giấc mộng, trong câu truyện
kể, trong truyện truyền kỳ. Nhưng mà, những
khải tượng (les visions) trong chiêm bao hay trong ảo
ảnh, trong tuởng tượng có cái nào mà không bắt
nguồn tự sự thật?
Bởi sinh
trưởng ở Hà Tiên, tác giả đă từng thấy
đồng cỏ, rừng núi, ao suối, khe ng̣i nên trong
thiên tùy bút ''Mộng Xanh'', bà dựng một phong
cảnh trong giấc chiêm bao như sau:
Hà mơ thấy ḿnh,
như ban ngày, cùng con cháu bé đang thơ thẩn bên bờ
Đông Hồ. Là bờ Đông Hồ, nhưng sao lại
thấy một cây cầu bắc qua một cái suối con,
nước chảy róc rách. Bước lên cầu. Cầu
nhúng nhính. Qua bên kia suối, th́ là một cảnh là lạ.
Ngoảnh lại, nh́n chung quanh th́ chỉ đứng đó
một ḿnh. Không nhận ra lúc ấy là ban chiều hay
đêm trăng. Hà chỉ thấy bóng sáng mát giọi
đều trên mặt đất, trồng toàn một
thứ cỏ xanh mát như nhung. Những con
đường mờ mờ trắng chạy viền
đều trên mặt cỏ.
Hà chạy tung tăng
khắp các con đường. Đường không có
sỏi đá, êm chân như trải bằng thứ cát
lạ ở cơi tiên.
Đi măi đến bên
một cái đồi con. Những con nai, con hươu trên
đầu mang cả một nhánh cây khô, ung dung ăn cỏ
bên sườn đồi. Đồi cũng toàn một màu
xanh rờn rờn, lưa thưa có bóng rợp của tàn
cây mát rượi.
Cô đứng lại,
lắng tai nghe như có tiếng gió và tiếng chim.
Bên kia đồi,
vài con thỏ vui đùa chạy giỡn, trông như
những khối bông trắng tinh lăn trên thảm
biếc.
Trèo lên ngọn
đồi, ngó chung quanh, thấy toàn một màu xanh ngăn
ngắt bạt ngàn. Vô số những cây liễu, cây dâu,
những cây cỏ không hoa mà cũng không tên.
Hà đến bên cái
biển cạn xây bằng cẩm thạch. Đá xanh,
nước lại xanh hơn, làm xanh lây đến
những con cá bơi lội trong hồ.
Màu xanh mát trong của
nước như quyến rũ. Tự nhiên, Hà đưa
tay cởi bỏ dần khuy áo... Giựt ḿnh, ngừng tay,
khép áo lại, ngơ ngác nh́n quanh... (các trang 101, 102, 103)
Tác giả chỉ nghe
người trưởng thượng kể lại
vận sự ông nội của ḿnh dong thương
thuyền đi biển gặp con quái ngư khổng
lồ cỡ chiếc tàu cũng đủ để bà
dựng nên một hoạt cảnh sống động.
Vận sự th́ có thật. Nhưng hoạt cảnh vẫn
là sản phẩm óc tưởng tượng phong phú
của kẻ làm văn chương.
... Mũi tàu c̣n cách con
cá không đầy trăm thước, đang lừ lừ
tiến đến, chợt nghe ầm ầm quẫy
mạnh đàng đuôi, cánh vi trên lưng cá như
hướng nhích qua một bên. Đứng trên tàu, nh́n
thấy chiều cạnh của cánh vi khổng lồ
đó.
Ông nội tôi có tia hy
vọng. Ông truyền cho bác tài công vững tay lái, cho tàu
hướng trịch mũi về bên kia để tránh
đà tiến của con cá.
Sóng nổi ồ
ồ, cuồn cuộn, lớp lớp trùng trùng chuyển
tới, tràn ngập cả sàn tàu.Bây giờ mũi tàu đă
tránh lệch khỏi được đường tiến
con cá. Mũi tàu và lưng cá sắp sửa vượt trái
nhau theo chiều dọc. Cánh vi cá và cánh buồm chiếc tàu
đă song song cao ngang nhau, cách không khoảng mười
thước. Lưng cá cọ sát vào sườn tàu. Ḿnh tàu
nghiêng hẳn về một bên. Nước tràn ào ào.
Người trên tàu chạy đổ xô về bên phía trên,
bên mạn thuyền cá vượt qua.Ôi chao ! Những
mảng vẩy bông tṛn tṛn, xậm xậm nổi rơ trên
lưng cá bằng từng chiếc nia to.
Ông nội tội
đă nhận ra đó là một con cá có vẩy to lớn vô
cùng. Chiều cái vi trên lưng nó đă ngang với buồm
tàu, th́ cố nhiên, ḿnh con cá cũng dài không kém chiếc tàu
đâu.
Con cá vuợt qua
khỏi, th́nh ĺnh, đuôi nó quẫy mạnh một cái
rồi nó đi thẳng, làm chiếc tàu quay tṛn mấy ṿng
như vỏ quả trứng thả vào chậu
nước đương xoáy.
Tuy vậy tàu cũng
từ từ yên lại. Mọi vật trong tàu đă xáo
trộn ngă đổ cả. Nh́n sau mui lái, th́ bác tài công, v́
cố kềm gh́ giữ tay lái cho vững, khi cá quẫy,
bị cần lái đập vào người, ngă ra bất
tỉnh. (''Ông Đạo Lập Quá Hải'', các
trang 356, 357, 358)
Về con quái ngư
khổng lồ, bà chỉ tả đôi ḍng nhưng cũng
đủ gợi những nét tạo h́nh thật sắc
sảo khắc sâu vào ấn tượng độc giả
như cổ nhân khắc chữ lên bản in hay
khắc dấu triện son trên gỗ, trên đá, trên
đồng:
Nó không phải là cá xà
cá mập, loài cá không vẩy, ḿnh trơn, vi thấp. Đàng
này, vi cá cao ngất như buồm cánh dơi, ḿnh có
vẩy đốm hoa to bằng chiếc nia.
Th́ rơ ràng là loại cá
mú khổng lồ. Cá mú mà ta thường thấy, ḿnh nó
tṛn, lốm đốm hoa vàng, hoa nâu. Kỳ to, vi lớn,
đuôi dẹp x̣e ra như cánh quạt, miệng to, hàm
rộng, mang phồng. Những con nho nhỏ mà ta trông
thấy đă khỏe đẹp lắm. Nó cũng
thuộc vào loại ḱnh nghê mà sách Trang Tử đă nói
đến đến trong thiên ''Đại Tiêu Dao''.
(''Ông Đạo
Lập Quá Hải'', trang 358)
Ở truyện ''Con
Gái Út Nhà Trời Thác Sinh Làm Nàng Mọt Sách'', khúc
đầu, bà Mộng Tuyết chỉ cần quan sát con
mọt sách để mô tả h́nh dáng của nó. Khi nó
biến thành giai nhân th́ bà chỉ cần dùng óc tuởng
tượng phong phú của ḿnh để nối bút cho
đến đoạn cuối truyện. Ít có ai quan sát
một con côn trùng bé tí ti và tầm thường như
loại con sâu cái kiến kia để tả cho thật
đặc sắc và thật đẹp như bà.
Lật b́a bọc da hăy
c̣n nguyên vẹn, thấy hiện trên tờ sách những
vết li ti. Vết nhấm tṛn tṛn như h́nh mặt
trăng, cong cong h́nh bán nguyệt, góc cạnh h́nh ngôi sao, đủ
cả. Sinh soi lên đèn, từng tờ lỗ chỗ, thấy
như da trời đêm tối lốm đốm sao
thưa. Tay lật nhanh lên để xem các dấu thủng
đă suốt sách chưa.
Đến gần
tờ cuối, một con hai đuôi thon thon h́nh thoi,
độ hai phân dài, ḿnh vương vướng phấn
nhung tơ, sau cùng có hai sợi lông đuôi vót dịu. Con vật
lui chui t́m chỗ trốn, lủi mau vào kẹt giấy
chưa kịp ẩn vào đâu. Bực tức, Sinh
định gấp sách lại thật nhanh cho nó chết
bẹp, nhưng chàng chỉ lấy ngón tay chận lại.
Ngón tay dí trên ḿnh con vật, chàng định ấn mạnh
xuống, rồi lại sợ bẩn trang sách quư. Hơi
ấm nóng trơn trơn, nhung nhúc tự dưng làm chàng
giở tay lên; con vật chậm răi ḅ chui vào lưng sách,
vẽ một vết mờ ng̣ng ngoèo theo dấu ḅ đi, và
để vướng lại trên ngón tay chàng một tí
phấn óng mỡ.
Sinh rút khăn
định lau vết phấn trên ngón tay, th́ lạ thay,
vết lông tuyết nhung đă lan khắp ḷng bàn tay mà
mảnh khăn chàng cầm là một mảnh lụa
phớt xanh ướp phấn. Như người bàng hoàng
chưa tỉnh, Sinh nhắm mắt định thần...
Khi mở mắt ra th́,
đối diện với chàng là một giai nhân tuyệt
sắc, là một tiên nữ yêu kiều lững thững
xiêm y phớt xanh ḿnh phấn, y như mảnh lụa chàng
vừa nắm trong tay, lướt thướt sau lưng,
vạt áo chia đôi óng nuột. (Các trang 183, 184)
Ở đoạn
văn này, cũng như nhà văn nữ Nguyễn thị
Hoàng, bà Mộng Tuyết tả con vật và tả
người sắc sảo mà không chói mắt, lộng
lẫy mà không ruờm rà. Đó là trường hợp
một thợ thêu khéo, chỉ dùng kim tuyến và ngân
tuyến thêu trên nền nhung mịn màng, chứ không
thêu trên nền gấm v́ vóc gấm chẳng
những bóng lộn mà c̣n dệt hoa bằng hai thứ
chỉ lóng lánh ấy sẵn rồi. Đây là cuộc pha
trộn màu sắc có ḥa điệu.
* * *
Thú vị nhất là
những bài được bà Mộng Tuyết Thất
Tiểu Muội viết về những văn gia thi sĩ
mà bà đă từng quen biết. Đó là những bài dành
riêng cho quyển tùy bút ''Dưới Mái Trăng Non''. Đó
là nhà chí sĩ Sở Cuồng Lê Dư, nhà văn Nguyễn
Trọng Thuật (bút hiệu Đồ Nam Tử, tác
giả quyển sách lừng danh ''Quả Dưa
Đỏ''), cùng nhà thơ Lưu Trọng Lư, nhà văn
Nguyễn Tuân, Lê Thanh v.v.. trong bài du kư ''Hà Nội Tây Thi''.
Đó là cụ Đồ Nam Tử thêm một lần
nữa xuất hiện trong bài ''Gặp Tác Giả ''Quả
Dưa Đỏ'', Cụ Đồ Nam Nguyễn Trọng
Thuật'' . Đó là nhà văn Lê Thanh đă từng cộng
tác với báo Tri Tân lần thứ hai hiển linh trong bài
văn tế khoác áo tùy bút ''Tơ Duyên Dương
Liễu''. Đó là nhà thơ Nguyễn Bính trong bài
''Để Nhớ Nguyễn Bính Những Ngày Ghé Bến Hà
Tiên''. Đó là Nguyễn Tuân tái xuất hiện trong bài
''Mưa Dầm Tháng Bảy''. Đó là Xuân Diệu cùng Huy
Cận, kẻ chết người sống cùng họp
mặt trong bài tưởng niệm bằng thơ
''Để Nhớ Anh Xuân Diệu''...
Cộng tác với
tạp chí Nam Phong do cụ Thượng Chi Phạm
Quỳnh chủ trương, ông Đông Hồ và bà Mộng
Tuyết bắt đầu quen hầu hết với các tao
nhân mặc khách, các danh sĩ đương thời hai
miền Trung Bắc. Lại nữa, giải thưởng
Văn Chương do nhóm Tự Lực Văn Đoàn
chủ trương đă đẩy tên tuổi bà xuyên
suốt đất nước Việt Nam. Dù thuở đó
có con thiết lộ Xuyên Việt, nhưng trước khi
viếng Hà Nội, hai danh sĩ đất hồ thơ núi
mộng của miền Tây Nam nước Việt ấy
chỉ biết các bạn văn của ḿnh qua cuộc trao
đổi thư đi tin lại. Chính chuyến
thăm thành quách Thăng Long vào năm 1939 đă giúp cả
hai gặp gỡ các người cầm bút ngoài đất
Bắc. Đôi bên không c̣n ''văn kỳ thanh, bất
kiến kỳ h́nh'' nữa. Đôi bên được
tiếp xúc lẫn nhau, đă có kỷ niệm đẹp
cho nhau. Đó cũng là thời kỳ Nhật dội bom
xuống Đông Dương và lăm le nuốt chững
Đông Dương.
Độc giả chúng
ta ở hải ngoại đa số là hậu bối
của các văn gia thi sĩ thời tiền chiến. Ai
cũng khao khát muốn t́m hiểu đời sống cá nhân
và phong thái từng tác giả một. Dĩ nhiên, các bài
vở trong quyển tùy bút '' Dưới Mái Trong Non'' không
đủ đáp ứng hoài vọng nồng nàn của chúng
ta đâu. Nữ sĩ chỉ vẽ lờ mờ đôi nét
phác thảo về chân dung và cuộc đời của các
người cầm bút lừng danh ấy, cùng những
kỷ niệm vặt vănh giữa họ và bà. Có thể
chúng ta cho rằng bà thiếu sót trong công việc viết
về họ. Nhưng ngẫm cho cùng, bà có muốn lôi
đời tư của họ để tŕnh bày cho chúng ta
thỏa măn tính hiếu kỳ đâu? Bà cũng có muốn
khoác áo phê b́nh một cách trịnh trọng về thi văn
của họ đâu? Bà chỉ muốn dắt chúng ta
song hành cùng bà vào vùng trời kỷ niệm trong văn
giới thế thôi. Chúng ta chỉ nhặt nhạnh dăm
ba mảnh vụn sáng lấp lánh trong cách sống của
họ, ngay cả của bà. Vậy mà bài viết vẫn
đượm nhuần thi vị, vẫn sáng lên vóc dáng
văn chương nghệ thuật, vẫn khơi dậy
khói hương của một thời đại văn
chương huy hoàng đă xảy ra trên quê hương
tổ quốc chúng ta.
Các bạn muốn
biết chân dung các văn gia thi sĩ thời tiền
chiến đă từng quen biết với bà Mộng
Tuyết Thất Tiểu Muội ư? ''Dưới Mái
Trăng Non'' sẽ tặng các bạn một vài nhu cầu
t́m hiểu của các bạn. Trước hết, xin
đọc bức phác thảo chân dung cụ Đồ Nam
Nguyễn Trọng Thuật:
Cụ Đồ Nam
người cao cao và chắc chắn. Da mặt ngăm
ngăm, tóc râu nhiều và to sợi. Miệng rộng và luôn
luôn cười.
Câu chuyện của ông
già đó cũng ngay thẳng và chất phác như dáng
điệu của ông, như bộ quốc phục, cái áo
the thâm, cái quần vải trắng không ủi của ông.
Lời nói của ông không trang sức, không cầu kỳ,
không văn hoa như phần nhiều các ông Nho học mà
bọn trẻ khi tiếp chuyện phải lo sợ.
(''Gặp Tác Giả
''Quả Dưa Đỏ'' Cụ Đồ Nam Nguyễn
Trọng Thuật'', các trang 440, 441)
Chân dung Lưu Trọng
Lưu và Nguyễn Tuân cũng tại ga Hàng Cỏ trong
buổi đưa tiễn du khách về Nam cũng chỉ
được bà Mộng Tuyết nói qua loa cách phục
sức và cái phong thái của họ hơn là
đường nét tạo h́nh:
Trên sân ga Hàng Cỏ
đông nghẹt. Người ra đi đă đông, mà
người đưa tiễn người đi càng
đông hơn. Có hai mẫu người đứng gần
nhau mà rất tương phản nhau. Một người dễ
dăi giản dị đến chểnh mảng. Một
người th́ sạch sẽ diêm dúa đến nghiêm
chỉnh.
Người trên là
một thi sĩ thính tai nghe được những
thanh âm khi chưa thành tiếng động, nghe những
''tiếng thu'' âm thầm ''dưới trăng mờ
thổn thức'', nghe được cả ''h́nh ảnh
kẻ chinh phu trong ḷng người cô phụ''. Thi sĩ
Lưu Trọng Lư hôm nay cũng lễ mễ ra ga
đưa vợ về Thanh tránh loạn như mọi
người thiên hạ. Không biết thi sĩ có nghe
tiếng ǵ đặc biệt hơn không?Người
dưới là một văn sĩ khát cổ thèm đi. Nhà
văn này đă từng vẽ lại những ''vang bóng
một thời'', đă cho tôi ''sống'' lại đời
sống êm đềm của ngh́n xưa thăm thẳm.
Cũng nhà văn này đă gọi dậy ḷng say mê phong
vị sông hồ của tôi sẵn từ thuở bé.
Nguyễn Tuân trịnh
trọng đến bắt tay anh Đông Hồ.
Đứng trước nhà văn sĩ có một vẻ
điềm đạm, ôn ḥa khệ nệ, đến
cầu kỳ, khác người ấy, tôi cần phải
nói một cái ǵ, nhưng chung quanh đă ồn cả lên
rồi. (''Hà Nội Tây Thi'', trang 323)
Cuộc gặp gỡ
giữa nhà thơ Nguyễn Bính cùng Đông Hồ và Mộng
Tuyết vào xế chiều mùa hạ năm 1944 tại Hà
Tiên , giữa lúc bà Mộng Tuyết ngồi may tại
Yiễm Yiễm Thương Điếm. Nguyễn Bính
được bà vễ chân dung như sau:
Một người
khách lạ bước vào, với chiếc va-li nhẹ xách
tay. Người khách thâm thấp. Phong trần hiện trên
mớ tóc đen rậm, rối bồng, dài tới mang tai.
Bộ Âu phục cũ nhầu nát làm tăng thêm phần
tiều tụy. (''Để Nhớ Nguyễn Bính Những
Ngày Ghé Bến Hà Tiên'', trang 402)
Riêng chân dung của Xuân
Diệu và cuộc gặp gỡ giữa đôi bên lại
được tả bằng 2 đoạn thơ, mỗi
đoạn gồm 4 câu thất ngôn trong bài thơ
tưởng niệm ''Để Nhớ Anh Xuân Diệu''
(trang 432):
Mùa thu tháng tám năm
băm chín (1939)
Một nhóm anh em từ
phương Nam
Ra thăm Hà Nội
trong chớp nhoáng
Quán cơm Hàng Da nơi
hội đàm.
*
Một gă thư sinh mái
tóc bồng
Mắt sáng, miệng
cuời tươi nở bông
Ghé lại cùng ngồi
góp thêm chuyện
Kư tặng bạn xa
quyển ''Phấn Thông..''.
C̣n ǵ cảm
động hơn, khi ra Hà Nội, đôi uyên ương thi
ca Đông Hồ & Mộng Tuyết đến viếng
cụ Đồ Nam Tử. Cụ t́nh nguyện
hướng dẫn họ đi thăm thú đó đây cùng
viếng các nhà văn nhà thơ đất Thăng Long.
Cụ đ̣i thân
đưa bạn Hà Tiên đi thăm các nơi danh thắng
đất Thăng Long. Anh Đông Hồ có lẽ v́ sợ
cụ Đồ Nam nhọc mệt, vội vàng từ
tạ bằng một câu sáo, hết sức sáo:
-- Xin cám ơn ngài.
Nếu ngài có bận có mệt th́ xin để chúng tôi
đi với các anh em trẻ tuổi cũng
được. Ngài cứ nghỉ nhà, chúng tôi đi
đến đây thăm ngài và nếu có cần ǵ sẽ
chạy đến xin nghe là được. Ngài khỏi
bận đến, và chúng tôi ra đây cũng có nhiều
nơi quen biết, không đến nỗi lạ lùng ǵ.
Cụ Đồ Nam
đưa tay lên lắc và nói một cách mạnh bạo:
--, nói mà hay, thiên
tải nhất th́ kia mà, hữu bằng viễn
phương lai, th́ dẫu có mệt th́ cũng không
được mệt và dẫu có bận công việc bao
nhiêu nữa cũng phải vứt bỏ cả, chứ sao
nói đến nhọc và bận?
(''Gặp Tác
Giả ''Quả Dưa Đỏ'' Cụ Đồ Nam
Nguyễn Trọng Thuật'', các trang 440, 441)
Khi tiễn khách Hà Tiên
trở về Nam, tại ga Hàng Cỏ, cụ Đồ Nam
đă tặng một bài thơ dài, nhưng ở đây bút
giả HTA xin trích mấy câu chót:
Gặp nhau đă
thỏa ước ao,
Gần nhau ta tính
thế nào cho hay.
Lầu văn chung
sức dựng xây,
Ḷng thành sẵn đá,
sẵn cây, sẵn nền.
Mấy lời gắn
bó bao quên,
Bạn về, ta
đứng ngóng trên non Nùng.
Cách viết của bà
bớt uốn éo, bớt bay bướm để mạch
cảm xúc len lỏi vào từng chữ viết, từng
ḍng văn. Giao t́nh đôi bên từ phía bên khách khi vào
quyển tùy bút lúc nào cũng đẹp, cũng đáng
để bên chủ, luôn cả bên độc giả trân
quư và cất giữ trong kho tàng kỷ niệm của ḿnh.
Nhà văn Lê Thanh, một kẻ ít nổi danh nhất,
nhưng vẫn được tác giả quư mến lúc
đưong sự sinh tiền, vẫn được bà
khóc lóc, hoài niệm lúc nghe tin ông tạ thế ngoài
đất Bắc. Và chàng Lê Thanh yểu mệnh kia
dưới ng̣i bút bà là ''một văn nhân tầm
thước, nhă nhặn, diêm dúa và đứng đắn.
Đôi kính trắng học giả nổi trên khuôn mặt
đẹp và hiền của một thư sinh thời
cổ'' (trang 392) đă cho bà những kỷ niệm như
sau:
Huống chi ngoài duyên
văn tự, hăy c̣n những dấu vết nhạn
hồng, những bức thư trắng tinh sạch sẽ
thường viết bằng nuớc son tươi với
nét nhỏ, mau, mà rơi như tơ rối đó hăy c̣n
mới như những cánh hoa đào rơi trên mặt
suối.
Mỗi khi viết
đến chữ Mộng Tuyết và tên người
nhận lănh trên phong b́, anh cố bắt chước theo
chữ kư của Mộng Tuyết vẽ cảnh trăng
non trên chữ Tuyết và dưới chữ Mộng vẽ
một ngôi sao.
Anh đă báo tin cho
Mộng Tuyết:
''Tôi đă đưa
đi khắc cái chữ Mộng Tuyết có mặt ông
trăng và một ngôi sao kỳ dị ấy, số
tiền thuê là năm xu rưỡi, chị làm thế nào
hoàn lại cho?''.
Và anh đ̣i nợ
Mộng Tuyết:
''Có một diệu
kế nhất là một ngày nào đó, đáng lẽ chị
không định viết thư nhưng cũng đem
viết, thế là trả xong món nợ đó''. (Thư ngày
3-9-1941). (''Tơ Duyên Dương Liễu'', trang399)
Vào thời buổi này,
đọc những sách viết danh nhân trong các lănh vực
chính trị, văn hóa, nghệ thuật, ai cũng t́m
những đoạn gay cấn, éo le, khúc mắc... Đó
cũng là những đoạn được tô
điểm bằng thù nghịch, đ̣n phép, lọc
lừa, súng đạn, ác mộng, tinh khí, để hâm sôi
máu găng- tơ chảy trong huyết quản, để
khích dục khiêu dâm, để đánh thức con ác quỷ
lặn sâu cuối đáy thẳm của nội giới con
người. Nhưng đọc những cuộc giao du
trong văn giới dưới ng̣i bút của bà Mộng
Tuyết Thất Tiểu Muội, chúng ta chỉ thấy
cuộc sống của họ như mặt hồ im sóng
trải gương, chỉ thấy tâm tư họ nở
hoa nhân ái, chỉ thấy giao t́nh giữa họ với nhau
đẹp bảy sắc cầu vồng. Chúng ta có cảm
tưởng mọi vận sự dẫu nhám nhúa và gai
góc đến đâu trước khi được
đưa vào văn chương, cũng được bà
gọt cho trơn láng và đánh quang dầu cho bóng loáng
như nền men và như mặt gương. Những bài
viết như thế thiếu kích thích, nhưng bù lại
chúng làm cho mỹ cảm người đọc thấm
nhuần thêm cái chất tinh hoa thuần khiết của
văn chương cổ điển.
Việc tặng quà cho
nhau trở nên thi vị tuyệt vời. Đâu cần các
món trang sức hay các món ngoạn hảo làm bằng kim
ngân châu báu đắc tiền, mà chỉ là những món
vừa với túi tiền của các hạng trung lưu . Những
món đó, qua góc cạnh nh́n ngắm đặc thù cùng tâm
t́nh tha thiết của bà Mộng Tuyết cũng trở
nên những món hiếm quư, không phải ở trong cuộc
sống thường nhật của chúng ta mà ở trong cái
thế giới văn chương gấm vóc của bà.
Đây là món quà tặng
của Nguyễn Tuân vào thời tiền
chiến:
Tết Trung Thu năm
ấy, tôi nhận được một gói quà vuông vức
bọc giấy dày cẩn thận. Mở ra th́ là cái hộp
gỗ đặt đóng riêng, trong có một hộp
giấy đựng bốn cái bánh trung thu của hiệu
cao lâu Đông Hưng Viên, có tiếng nhất Hà Nội lúc
đó. Hộp bánh gởi bưu điện bằng xe
lửa tốc hành vào Sài G̣n, rồi theo đường
bộ về Hà Tiên mất mấy ngày đường
nữa.
Tuy vậy bánh
vẫn thơm ngon, kèm theo hộp bánh một số báo Trung
thu của Hà Nội Tân Văn có bài của anh. Cái hộp
gỗ đẹp như hộp may của các cô nữ sinh.
Bánh thập cẩm lâu ngày, tôi đem nướng lại.
Cái lối bánh ''biscuit'' này làm bánh tăng thêm hương
vị.
Bánh ngon là một
chuyện mà nhớ đến công phu người gởi.
Cái bàn tay chuyên để đóng triện son, để
mở khóa va-li giang hồ ấy, lại làm được
cái việc phong gói tẩn mẩn kia thực cũng lạ
lùng. Tôi tự nghĩ hoài không hiểu tại sao mà ngày
đó chúng tôi được anh ''cưng'' đến
thế ?
(''Mưa DầmTháng
Bảy'', các trang415, 416)
Hồi tiền
chiến, quà tặng đôi bên qua lại như con thoi
dệt lụa. Sau này, khi miền Nam Việt Nam lọt vào
tay Miền Bắc th́ cuộc tặng quà lại nối tiếp.
Hăy cùng đọc:
... Có người vào
anh gởi tấm thiếp ''Xin gởi cho Bưởi
Ổi''. Nhưng loại bưởi này th́ phải rằm
tháng chạp trở lên mới có. Người ta phải
để cho vừa đỏ chín mới hái th́ nó
mới có đủ mùi thơm. Múi từng tép trong mọng,
vỏ bưởi vàng tươi và có mùi thơm ngọt
của rượu Cointreaux. Mới nhận được
bưởi lần đầu anh thích cái dáng xinh xắn và
để vài trái là nghe ngát hương khắp pḥng.
Thấy anh thích, năm nào tôi cũng mua sẵn để
làm quà Tết. Có một năm Hoài Vũ bảo tôi mua,
nếu có ai ra Hà Nội mà gởi được sẽ
đem về gởi hộ. Năm đó không gởi cho ai
được mà tôi lấy làm mừng, v́ đă mua lầm
thứ bưởi lai không thuần giống.
Một bận anh Huy
Cận ghé vào dịp Tết, mừng quá, tôi xin gởi. Anh
Cận nghe gởi buởi th́ bảo một trái mà thôi, mà có
thể tôi sẽ lột vỏ mà chỉ đem ruột
về thôi. Tôi gởi anh Tuân một và anh Xuân Diệu
một, và xin đừng bỏ vỏ v́ vỏ là phần
chánh. Khi ăn bưởi rồi, treo vỏ ở đâu
đó, nó c̣n phảng phất mùi hương. Anh Huy Cận
lại bảo: ''Nếu thế th́ tôi bỏ lại
ruột mà chỉ mang vỏ ra cũng được
chứ!''.
(''Mưa Dầm Tháng
Bảy'', các trang 423, 424)
Qua các món quà xoàng
xĩnh này, chúng ta c̣n biết thêm thú thanh thưởng tao nhă
của các nghệ sĩ tiền phong lăo thành qua
những cái tầm thường, vặt vănh, tủn
mủn. Nhưng mà nhờ cặp mắt nghệ sĩ,
nhờ niềm cảm nhận uu việt, họ đă t́m
gặp chất thơ chất mộng của món quà, ngoài
t́nh bằng hữu thắm đượm thiết tha.
Đối với
Nguyễn Bính, tác giả đem tấm ḷng âu yếm,
thương yêu và đùm bọc cho ông Nguyễn, như
người chị hiền đối với chú em
nhỏ. Khi ông Nguyễn vào Hà Tiên ở chơi nhà ông Đông
Hồ th́ nhà thơ đất Hà Tiên kia bảo bà Mộng
Tuyết may bộ áo bằng lụa Hà Đông cho ông
Nguyễn mặc, nhường căn gác xép (Nam Phong
Tiểu Các) cho ông Nguyễn cư ngụ dài hạn. Xin cùng
đọc hai đoạn văn trong bài ''Để Nhớ
Nguyễn Bính Những Ngày Ghé Bến Hà Tiên'':
Bính thường
quấn quít bên tôi như một chú em ngoan ngoăn. Quăng này, tôi
c̣n đang tang cha, luôn luôn mặc chiếc áo dài ai trắng,
thứ vải thô xấu, may dối dối theo tang
phục. Bính thường ngắm tôi và nói: ''Người
con gái Việt Nam, mặc áo tang sô gai có một vẻ
đẹp năo nùng, khả ái như một bài thơ
buồn''. Có những lúc tôi bận suy nghĩ một
điều ǵ, Bính nói chuyện, tôi lơ đảng, không
trả lời, th́ Bính gắt gỏng: ''Trông chị
nghiêm như một bà Hoàng, ghét quá!''.
Cứ buổi sáng
ăn xong ở nhà riêng của anh Đông Hồ ở
cạnh Hồ Đông, th́ Bính ra tiệm với tôi. Tôi ra
chợ trước tiệm, mua thêm bánh ngọt cho Bính
uống trà. Bính thích hơn hết là thứ bánh qui. Bính nói:
''Bánh chi mà đẹp như chiếc ấn son''.
Bính ra cửa hàng.
Để trông cửa hàng cho chị. Để xem chị
may áo. Để đi gửi thư cho chị.
Mỗi khi tôi viết
thư xong, thế nào Bính cũng dành đi bỏ thùng cho
đươc. Bính học thuộc các địa chỉ
trên phong b́. Có bận nh́n địa chỉ một
người, Bính làm vẻ hờn dỗi: ''Sao mà chị
viết nhiều cho người này lắm thế, làm cho
Bính phát ghen''.
Bính thường hay
kể chuyện giang hồ, kể chuyện gia đ́nh.
Kể chuyện ''Chị Trúc'', người chị tinh
thần đă an ủi Bính trong những khi Bính chán nản.
Bính hứa xem tôi như một người chị tinh
thần thứ hai của Bính. (trang 405)
Mỗi đêm,
dưới ánh hồng lạp, Bính viết bốn năm
trang thơ lục bát. Thời kỳ bấy giờ không
dầu lửa. Ở tỉnh nhỏ, ai cũng đốt
bằng dầu dừa, dầu cá. Duy với Bính th́ anh
Đông Hồ phải dành trên Nam Phong Tiểu Các cho Bính những
ngọn hồng lạp để đêm hôm Bính làm thơ.
Mỗi sáng ra, Bính đem đọc cho chúng tôi nghe, bàn
lại, cùng thưởng thức.
Giữa lúc đó, vào
tiết Đoan Ngọ, theo tục lệ ở Hà Tiên, tôi
nấu nước lá thạch xương bồ để
tắm gội. Bính thích ba chữ ''thạch xương
bồ'', và lấy ba chữ đó đặt tên cho tác
phẩm đang khởi thảo của ḿnh.
Trong lúc sáng tác, Bính
thường bảo viết truyện thơ, tả
cảnh tả t́nh không khó. Tự sự mới thiệt khó
khăn. Bính nói: ''Ḿnh có làm rồi mới biết văn
tự bằng lục bát của Nguyễn Du quả là tài
t́nh. Người sau đố mà theo cho kịp''.
Bính sáng tác truyện
''Thạch Xương Bồ'' được gần hai ba
trăm trang. Tới lúc rời đi, th́ chuyện mới
chỉ xong được một phần. Nếu Bính c̣n
nằm ở Hà Tiên ít lâu nữa th́ chắc chắn đă
hoàn tất được một quyển truyện diễn
ca khá độc đáo. Bởi chúng tôi thấy khi đó
Nguyễn Bính viết rất hào hứng, rất dồi dào.
Bính viết lục bát nhanh như văn xuôi.
Anh Đông Hồ và tôi
tiếc v́ tác phẩm chưa hoàn thành mà Bính bỏ đi,
bỏ dở dang thi uổng. Chúng tôi cố lưu Bính ở
lại thêm một thời gian nữa mà Bính nhất
quyết ra đi. Bịnh giang hồ đă nổi dậy
lên trong ḷng người nghệ sĩ. (các trang 407, 408)
Văn chương bà
Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội uyển
chuyển, bay bướm, tuy hơi lập dị đôi
chút , nhưng thuần túy hiền lành, chứ không giả vờ
ngoan ngùy, chứ không giả bộ đôn hậu. T́nh
bằng hữu của bà đối với các văn nhân
thi sĩ đương thời cùng bà sao mà ngọt ngào, âu
yếm và sâu sắc. Bà viết văn bằng một
tấm ḷng trước nhất, sau đó mới trang
điểm thêm hoa ḥe hoa sói. Do đó mà nhiều độc
giả cho rằng đó là những màu mè che đậy cái
dối trá, cái hư ngụy. Thật sự, ở ngoài
cuộc đời bà hiền lành hay hỗn dữ ra sao,
chân thật hay dối láo cách nào, chúng ta vẫn phải tin
rằng ở một nhà nghệ sĩ nói chung, ở
một nhà văn nói riêng, luôn có hai con người
đối nghịch: một con người trí trá giả
dối và một con người chân thật thành khẩn.
Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo môi trường sinh hoạt mà
một trong hai loại người đó hiển lộ.
Nhưng trong văn chương, nhà nghệ sĩ vào
thời đại xa xưa có thể không cho con
người xấu của ḿnh xuất hiện, dù trong
căn tính của họ, cái xấu đó bành trướng
và lấn át con người tốt của họ đi.
Họ hèn nhát che đậy cái nhược điểm
của ḿnh, có phải thế không? Không đâu. Khi trang
trải con nguời tốt của ḿnh lên văn
chương, nhà nghệ sĩ trong giây phút sáng tác, sống
hoàn toàn bằng con người đó. Họ thành tâm
muốn phơi bày cho người đọc cái hoài băo, cái
ngưỡng vọng của ḿnh đối với cái
Thiện để cho Chân Thiện Mỹ cùng soi
gương gặp bóng lẫn nhau, nâng cao giá trị của
văn chương nghệ thuật thêm lên. Họ muốn
hướng thiện, cái Thiện mà họ ít khi có dịp
để họ đem ra xử dụng với thế nhân
trong cuộc sống thường nhật, nhưng không bao
giờ họ hoàn toàn quên nó.
Về thơ, ngay
từ thời tiền chiến, bà Mộng Tuyết đă
biết xử dụng ngôn ngữ dù đơn giản
nhưng rất thơ, rất đượm đà tính chất
sáng tạo. Tuy nhiên, bà dùng một vài h́nh ảnh, một vài
điển tích và cái khí hậu thơ Đường
Tống trong văn chương Trung Hoa. Cho nên đôi khi nó
đứng ngỡ ngàng bên lề cảm nhận của
độc giả và xa cách niềm xúc động của
họ một khoảng khá xa. Chẳng hạn bài
''Đợi Gió'' bà dùng để trang tặng nữ sĩ
Anh Thơ:
Gởi Anh Thơ
Mấy vần thơ
đợi gió,
Ḷng xuân thắm
đỏ,
Ḷng thuyền nho
nhỏ,
Đợi nước
triều lên...
Triều đă lên
rồi trăng cũng lên;
Trăng lên rồi
đó. Gió chưa lên.
Mặt nước
hồ nằm say giấc mơ,
Ḷng gương không
vướng gợn mây mờ,
Khói chiều
đứng thẳng trên quan tái,
Hương tỏa
hồn hoa ướp cỏ bờ.
Cánh gấm buồm ai
buông trắng tinh,
Phơi nền trinh
bạch giữa trời xanh,
Cắm sào bến
cũ buồn lơ lửng,
Chở mộng muôn
phương, mộng viễn tŕnh.
Trời Bắc bên kia
đương ngóng trông,
Sông Thương, sông
Nhuệ mở đôi ḷng.
Xuôi chèo Nhâm Tuất theo
trăng lạnh,
Mở yến Đào
Viên chuốc chén nồng.
Gió gác Đằng
Vương chẳng thổi đưa,
Cho thuyền
đợi gió đến bao giờ,
Cho buồm Vương
Bột trong giây phút,
Ngh́n dậm bay sang
bến đợi chờ.
Khi xuân thắm
đượm khắp nơi nơi,
Vạn vật đem
xuân trả lại đời,
Mà chẳng trả cho
thuyền tí gió,
Để thuyền
thương nhớ những phương trời.
Đây là loại
thơ tân cổ điển (néo-classique) mà đồng
thời hoặc sau bà Mộng Tuyết vài năm, có các
nhà thơ như Đông Hồ, Jean Leiba và Ngân Giang hà hơi tiếp
sức để khơi lên một cơn gió giao mùa xôn xao
làm cho khu vuờn thi ca nước nhà nở những bông hoa
đài các trong hoa phổ nước nhà. Sau khi đất
nước bị phân đôi bởi con sông Bến Hải, ở
Miền Nam Việt Nam có Hư Chu, Bùi Khánh Đản cùng các
nữ sĩ của Thi Đoàn Quỳnh Dao nối hơi
chạy tiếp sức với vợ chồng bà để
trận gió kia đưa lại những h́nh xa bóng
lạ từ trong tranh, trong những quyển cảo
thơm của thi ca nước Tàu. Xin đọc bài ''Nguyên
Tiêu Tương Tư''. Bài này không có mặt trong quyển
tùy bút ''Dưới Mái Trăng Non''.
Gương ngọc
thiên kim giá đổi vừa,
Khuôn duyên tṛn một
quả đèn dưa
Ngồi đây mà
nhớ trang phương đó,
Đọc trắng
đêm rằm chuyện Ái Cơ.
Nhưng ngẫm
lại, khung cảnh và khí hậu trong truyện dài bằng
thơ ''Đoạn Trường Tân Thanh'' của Nguyễn
Du hay truờng ca ''Chinh Phụ Ngâm'' của Đặng
Trần Côn qua nghệ thuật phiên dịch của Đoàn
thị Điểm, trường ca''Cung Oán Ngâm Khúc'' của
Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, trường ca''Ai
Tự Văn'' của Ngọc Hân Công Chúa, tất cả có tính
chất Việt Nam chút nào đâu? Đọc những áng thi
ca kia, chúng ta như lạc vào khung cảnh xa xưa của
thời quân chủ nước Tàu.
C̣n thơ của
nhóm thân hữu vợ chồng ông Đông Hồ như Bùi
Khánh Đản, Hư Chu, Cao Tiêu, Đan Quế, Thanh Vân,
Phương Hồ và các nữ sĩ trong Thi Đoàn Quỳnh
Dao th́ sao? Có điều rơ rệt nhất là quư bà
Quỳ Hương, Uyển Hương, Thu Nga, Vân
Nương, Như Hiên, Đinh Việt Liên, Phượng
Tần... đôi khi có thêm Mộng Tuyết và Tuệ Nga trong
thi đoàn này khi làm thơ thất ngôn bát cú th́ như
chỉ có một người làm ra: ngôn từ, ngữ pháp,
khí hậu, ư tưởng trong thơ của họ y chang
như nhau. Thơ của các bà lẫn thơ các ông này là
loại thơ được chăm sóc từng câu, lau chùi
và giồi mài từng chữ, thêu thùa những bông hoa
ngữ pháp diêm dúa để trở thành toàn bích về h́nh
thức. Nhưng có nhiều trường hợp, họ
gặp hiệu quả trái ngược: cái ǵ khéo qua
chẳng những không có cái duyên đậm đà mà lại
c̣n thiếu truyền cảm, thiếu tâm huyết và linh hồn.
Hàm răng giả đều đặn và bóng lộn
hơn hàm răng thật, nhưng khi gắn vào miệng
thiếu răng của một trung niên mỹ phụ nào
đó, nó làm cho nụ cười của
đương sự nhăn nhở và không được
thuận nhăn. Thơ tân cổ điển của những
nhà thơ mà tôi vừa kể chẳng những lạc loài
giữa thi ca lăng mạn, thơ hiện thực,
thơ trừu tượng, thơ siêu thực bên kia chân
trời Âu Châu tuần tự nhập cảng qua Việt Nam
mà c̣n bị thơ thấm nhuần tinh túy Việt Nam
lấn át nữa.
Trước khi làm
thơ tân cổ điển trên đất nước
tự do của Miền Nam Việt Nam sau Hiệp
Định Genève, bà Mộng Tuyết làm thơ lăng mạn
v́ vào thập niên 30 của thế kỷ 20, đó là cao trào
loại thơ này:
Một nàng tiên nữ
đẹp như em,
Là một bài thơ,
một quả tim,
Là áng hồng non, làn gió
lướt,
Là hoa xuân thắm, bóng
trăng đêm.
Thi sĩ, em ơi,
đó lại là
Người đi theo
dơi bóng tiên nga,
Ước mơ, yêu
thích và ca ngợi,
Những cái mà em đă
có thừa.
(''Em Trả Thù'',
trang 179)
Trước khi
cuộc chiến tranh Đông Dương bùng nổ, cảm
thấy giữa cơn biến chuyển của lịch
sử mà ḿnh không đáp lời sông núi th́... chậm tiến
quá. Cho nên bà Mộng Tuyết làm thơ hiện thực qua
''Muời Khúc Đoạn Trường'' dễ làm rung động
cho những ai có ḷng xót xa với trận đói ngoài Bắc
Việt vào năm Ất Dậu (1945). Xin đọc hai
đoạn đầu của bài thứ 6 ''Hấp Hối
Đợi Chờ''.
Tai mới nghe kia ḷng
thổn thức,
Xác người xe
nhặt buổi ban mai,
C̣n bao nhiêu nữa
đang quằn
quại,
Hấp hối chờ
cơm hơi mỏn hơi?
Gốc rạ, cọng
rơm vơ mót sạch,
Giây khoai, củ
chuối: món cao
lương,
Vỏ cây, giây lá không
c̣n nữa,
Đất trụi,
đồng trơ nuốt thảm thương.
(trang 340)
Thơ hiện thực
ở trên đây thấm nhuần chất sống thực.
Cái màu mè riêu cua vắng bóng. Tuy nhiên cái sống thực
ở đây không có chất sáng tạo nên nó thổi bay tan
tác chất thơ trong ngôn ngữ dành riêng cho thi ca. Tuy nhiên
bài thơ có dáng dấp mới hơn thơ tân cổ
điển, nhưng đứng bên thơ tân cổ
điển, nó chỉ là cô thôn nữ quần bô áo vải
đứng bên cô đào hát ăn mặc cổ trang
để đóng tuồng Tàu. Cho nên bà xoay qua thơ
chiến đấu. Đó là một loại thơ hiện
thực có nhiều ngữ pháp và ngôn từ bừng bừng
tráng khí làm hơi thơ lẫn vóc dáng thơ mới mẻ
hơn:
Kết chặt hàng
đi dưới bóng cờ,
Trời Nam giành lại
nước non xưa,
Tưng bừng vận
mới hồn trai trẻ,
Một khối ngh́n thu
vững cơi bờ.
Lửa đỏ
ấm vui ḷng cố quốc,
Nắng vàng hanh
rạng cảnh biên thùy,
Gió lộng xôn xao lá
quốc kỳ.
(''Dưới Cờ'',
trang 304)
Loại thơ này trong
thời kỳ Nam Bộ Kháng Chiến có Vũ Anh Khanh,
Thẩm Thệ Hà, TrúcKhanh, Ái Lan... tiếp hơi. Sau đó,
vào hai chính thể Cộng Ḥa ở miền Nam Việt Nam,
có Hoàng Phong Linh hoặc Phạm Lê Phan ( qua thi tập
''Chiến Ca'') nối gót. Ra hải ngoại đă có
Bắc Phong, Vũ Kiện, Lê Khắc Anh Hào và nữ sĩ
Ngô Minh Hằng cố ǵn giữ tàn hơi loại thơ
này, không để cho vang bóng bạc nhược
của nó tắt lịm.
Truớc năm1975, Uyên
Thao đă gạt phắt Mộng Tuyết Thất Tiểu
Muội ra khỏi ''Những Nhà Văn Nữ Việt Nam'';
có lẽ v́ ông Thao không chịu được cái cổ
kính, cái trang đài trong các bài tùy bút của bà. Ra hải
ngoại, nhà văn Vơ Phiến bỏ rơi bà khi hoàn thành
bộ ''Văn Học Miền Nam''. Có lẽ, ông Vơ không thích
cái vẻ mệnh phụ kiểu cách trong văn
chương của bà chăng? Cách đăi lọc của hai
ông danh sĩ này kỹ quá nên đẩy văn chương
bà lùi sâu vào bóng tối đặc sệt dưới đáy
vực thời gian mà quên cái công tŕnh trước tác rất
tận tụy của bà gần ba phần tư thế
kỷ.
Chúng ta cũng
đừng quên bà MộngTuyết Thất Tiểu Muội
là phụ nữ đầu tiên viết văn xuôi
có nghệ thuật đă xuất hiện trên văn đàn
nữ giới rất quạnh quẽ đ́u hiu vào
thập niên 30 của thế kỷ 20 vừa qua. Song song bà,
có hai bà Tú Hoa và Đoàn Tâm Đan, nhưng bà Đoàn Tâm
Đan không đủ tài năng và nghị lực để
xuất hiện lâu trên văn đàn, c̣n bà Tú Hoa dù có
quyển tiểu thuyết ''Bóng Mơ'' đoạt
giải Tự Lực Văn Đoàn đi nữa, nhưng
về sau lại bà Tú Hoa xoay qua viết tiểu
thuyết diễm t́nh, mở đường cho hai bà Lan
Phương và Tùng Long làm mưa làm gió trong giới
độc giả b́nh dân ở Miền Nam Việt Nam . Sau
bà Mộng Tuyết ít lâu, có Thụy An và Mộng Sơn,
rồi kế đó là Nguyễn thị Vinh và Linh Bảo.
Công khai phá của bà đâu phải nhỏ!
Bài giới thiệu này
không nhằm mục đích đ̣i các nhà biên khảo và các
nhà phê b́nh trả lại công b́nh cho bà nữ sĩ của
đất Hà Tiên với hồ thơ núi mộng kia.
Nhưng bút giả hy vọng nó sẽ rọi sáng đâu
đó cái tài viết dă sử tiểu thuyết của bà
(qua quyển ''Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp'') không thua tài sáng
tác Nguyễn Triệu Luật (qua quyển ''Bà Chúa Chè''). C̣n
về nghệ thuật viết tùy bút, bà đứng bên
cạnh Nguyễn Tuân và Xuân Diệu tuy có thua kém vài phân,
nhưng như trường hợp hoa mai đứng trên
tuyết, trên băng. Sắc hoa không thể đọ
sắc trắng trong của băng, của tuyết ,
nhưng hoa vẫn c̣n một chút hương
đượm phảng phất mơ hồ.
Văn chương
trải qua nhiều trào lưu, nhiều trường phái.
Bà Mộng Tuyết xuất thân từ ḷ Nam Phong Tạp Chí
nên bút pháp bà vẫn vướng vít vài nét cổ kính, câu
văn bà đôi lúc không tránh khỏi thói biền ngẫu réo
rắt nhàm tai. Cho nên văn thơ của bà có thể đă
không c̣n ai hưởng ứng, chiêm ngưỡng nữa.
Không một nhà văn nữ nào chịu nối gót theo bà. Nhưng
đọc văn chương của bà, chúng ta hăy tự
đặt ḿnh vào thuở tiền chiến, vào thời
kỳ mà Hoàng Ngọc Phách viết cuốn ''Tố Tâm', vào
thời kỳ Nhất Linh viết quyển''Nho Phong'', và vào
thời kỳ mà độc giả mê say hai
quyển''Tuyết Hồng Lệ Sử'' và ''Ngọc Lê
Hồn'' của Từ Trẩm Á (Trung Hoa) được
dịch ra Việt ngữ. Đó là thời kỳ văn
chương nước nhà chưa có văn phạm
(grammaire) dựa trên văn phạm Tây phương
để chỉnh đốn câu văn sao cho trong trẻo,
sáng sủa, đơn giản, đôn hậu. Cho nên bút pháp
của văn nghệ sĩ tiền phong trong đó có bà
Mộng Tuyết không đạt đuợc gọn gàng
truyền cảm nên không đi sâu vào khiếu thưởng
ngoạn và tâm hồn người đọc. Bù lại, văn
chương của bà phong phú h́nh ảnh và nườm
nượp cái thú tiêu khiển phong lưu tao nhă của
cổ nhân.
Và hăy dùng niềm
cảm thông chia sẻ để mở những cánh cửa
đă từng đóng chặt tâm hồn và thú thưởng
ngoạn của chúng ta. Có được như thế,
phong vị dịu dàng của văn chương bà Mộng
Tuyết tràn vào nội giới chúng ta như ánh nắng
tươi non hoặc ánh trăng sáng mát tràn vào căn
buồng u tối.